Nhân 300 năm sinh danh nhân Phạm Đình Trọng

Phạm Đình Trọng với sự nghiệp bảo vệ biên cương hải đảo

Phạm Đình Trọng sinh năm Giáp ngọ niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), quê làng Khinh Dao huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn xứ Hải Dương nay là thôn Khinh Dao xã An Hưng huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông vốn dòng dõi họ Phạm nổi tiếng văn hiến nước ta, gốc ở làng Kính Chủ huyện Giáp Sơn nay thuộc xã Phạm Mệnh huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương với anh em Phạm Mại, Phạm Ngộ, người là quan văn, người là quan võ giúp 3 đời vua Trần Nhân Tông, Anh Tông và Minh Tông, đều lập công lớn trong sự nghiệp giữ nước, dựng nước thời ấy. Con thứ hai Phạm Ngộ là Phạm Sư Mệnh (cũng đọc Mạnh) theo chí bác ruột học văn, là một học trò xuất sắc của Tiên sinh Chu Văn An. Ông đậu Thái học sinh năm 1325 đời Trần Minh Tông, làm quan tới chức Hành khiển (Tể tướng), là một tác gia lớn. Chi họ này đời Lê Sơ chuyển về làng Lê Xá huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn nay là xã Lê Xá xã Tú Sơn huyện Kiến Thụy, Hải Phòng có Phạm Gia Mô đậu Tiến sĩ năm 1505 đời Lê Uy Mục, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, sau theo giúp Mạc Đăng Dung là một khai quốc công thần được phong chức Thái sư Hải Quốc công. Chi họ Phạm Đình làng Khinh Dao từ đời cao tổ, tằng tổ đều làm quan to tại triều, được ban tước Hầu. Thân phụ Phạm Đình Trọng đậu Hương cống vào học trường Quốc tử giám, sau được bổ nhiệm chức Tri phủ.

Phạm Đình Trọng thuở nhỏ học ở nhà, sau gia đình gửi theo học các nhà nho đức độ, tài năng nên mới 20 tuổi đã đậu Hương cống, khoa thi năm Bính thìn niên hiệu Vĩnh Hựu (1739) đậu Tiến sĩ, làm quan trải thăng từ chức Hiệu thảo Viện Hàn lâm đến chức Thượng thư bộ Binh, Thái tử Thái bảo, Thượng trụ quốc Thượng trật Hải quận công.

Phạm Đình Trọng là quan văn, nhưng vào đời vua Lê Hiển Tông, chúa Trịnh ăn chơi sa đọa, hoang phí, bỏ bê trễ chính sự, lại thiên tai liên tiếp, tệ tham quan ô lại, bán tước mua quan, mua bán bằng cấp… Vì vậy, nhân dân, đặc biệt là nông dân vô cùng cực khổ. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi, tiêu biểu là 2 cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, do Nguyễn Hữu Cầu phát động lãnh đạo. Triều đình Lê Trịnh nghiêng ngửa. Nhờ có một số quan văn võ tài giỏi, đặc biệt là Tiến sĩ Phạm Đình Trọng đã dẹp yên loạn lạc. Ông đã bắt được 2 thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Tuyển và Nguyễn Hữu Cầu. Những nơi ông đến trị nhậm đều chăm lo việc yên dân, trừ tệ cường hào ác bá, nên dân chúng mến mộ, có nơi ở Nghệ An còn lập đền thờ sống.

Chính vì thế, khi ông qua đời, Thượng thư Tiến sĩ Trần Danh Lâm viết bài văn tế, trong đó có câu:

Chưa đến bốn mươi, chức Thượng thư, với người là sớm, với Ngài là còn chậm.

Đội mũ nhà Nho mà làm tướng, với người là lạ, với Ngài đúng sở trường.

Không chỉ có công lớn về nội trị, Phạm Đình Trọng còn có công lo việc giữ yên biên giới đất liền, hải đảo tổ quốc. Bài phú Bắc môn tỏa thược (Then khóa cửa Bắc) của ông cho thấy Tổ tiên ta nhận thức rõ điều này nên căn dặn, nhắc nhủ:

Bắc môn cài cửa khóa then,

Giữ người lân quốc, chăn con triều đình.

Gia phả họ Phạm Đình làng Khinh Dao và một số sử liệu khác ghi sự kiện bọn phỉ Quan Lan chiếm cứ vùng Đầm Hồng, Vạn Ninh nay thuộc tỉnh Quảng Yên.

Chúng lợi dụng địa thế hiểm trở cướp phá, hoành hành suốt vùng biên giới Trung – Việt. Mấy năm liền, quan quân tỉnh Quảng Đông không đánh dẹp nổi. Nhân dân khổ sở vì bọn giặc này. Quan Trấn thủ Quảng Đông nhiều lần gửi thư tới quan Trấn thủ xứ Yên Quảng nước ta hẹn cùng phối hợp đánh dẹp. Nhưng suốt mấy năm liền chinh phạt mà không xong. Năm Mậu thìn (1748), triều đình phái Phạm Đình Trọng tuần tiễu vùng biển Đông Bắc. Sau khi thị sát tình hình kỹ lưỡng, ông cử bộ tướng Vĩnh Thọ hầu đem binh thuyền đến trước, phao tin sẽ hội họp với quan Tầu ở Quảng Đông để tiến đánh, nhưng ông lại bí mật bố trí quân ăn mặc dân chài mai phục ở Vân Đồn và đảo Bạch Long Vỹ. Quả nhiên, bọn phỉ mắc mưu, 7 tên đầu sỏ bị bắt gọn, giao cho quan tỉnh Quảng Đông. Đám phỉ hung dữ bị đánh tan. Nhân dân vùng biên giới vô cùng cảm kích. Quan tỉnh Quảng Đông tâu lên vua nhà Thanh, nhà vua khen ngợi, sai đem vàng lụa thưởng cho quân lính và mũ áo Thượng thư ban tặng Phạm Đình Trọng. Do đó, ông có chức Lưỡng quốc Thượng thư (Thượng thư hai nước).

Khi được tin ông mất, vua Càn Long nhà Thanh sai Tổng đốc Quảng Đông mang lễ vật và bài Văn tế sang viếng. Nội dung bản dịch văn tế như sau:

Vốn là chính khí Bắc phương,

Lại là Nam quốc lân bang trọng thần.

Ai hay gió cuốn mây vần.

Giờ người đã hóa cổ nhân mất rồi.

Rượu ngon còn nhớ mãi người,

Văn chương còn nhớ những lời thơ hay.

Suối vàng ai hỡi có hay,

Nước non gang tấc có ngày gặp nhau.

Miếu cổ Khinh Dao cũng thấy có câu đối ghi lại việc này.

Hiện nay, trong công cuộc bảo vệ biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời Tổ quốc, chiến tích cùng bài học của Danh nhân Phạm Đình Trọng cần nghiên cứu, học hỏi.

Ngô Đăng Lợi

TIÊU ĐIỂM

Hình ảnh
Năm nay mùa thu giãn dài. Đã cuối tháng Mười mà chút "hưu hưu gió lạnh đầu đông" vẫn chưa về. ...
Hình ảnh
Chùm thơ dự thi 04 về đề tài “Căng Máy Chai” của các tác giả: Nguyễn Vĩnh Bảo, Phạm Thị Quyên,...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay451
mod_vvisit_counterHôm qua136
mod_vvisit_counterTất cả2149830
Hiện có 212 khách Trực tuyến