Các phi tần người Hải Phòng

CÁC PHI TẦN LỘ HẢI ĐÔNG XƯA
CHÌM NỔI TRONG KIẾP HỒNG NHAN

Xưa nay, Hải Phòng nổi tiếng là vùng địa linh sản sinh nhiều mỹ nhân anh thư, kiệt hiệt. Chẳng thế mà dân gian còn mãi lưu truyền câu ca "Cổ Trai đế vương, Trà Phương công chúa". Mặt khác, câu ngạn ngữ "Chè Thái, gái Tuyên" đã gợi nhớ về cuộc lặn lội của các thái hậu, hoàng hậu, vương phi, quý tộc nhà Mạc từ đất Dương Kinh (Kiến Thuỵ - Hải Phòng bây giờ) lên tận thành Tuyên để trốn tránh cuộc truy sát của quan quân triều Lê - Trịnh. Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng ta hiện nay thì trên địa bàn lộ Hải Đông xưa (tức Hải Phòng ngày nay) mới chỉ 2 vị phi tần của vua Lê là Dương Thị Bí và cùng 2 cung tần của chúa Trịnh là Phạm Thị Doãn (Diễm) và Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh mà thôi. Và số phận của "Tứ đại mỹ nhân" này cũng rất khác nhau, đáng để cho hậu thế chiêm nghiệm.

TIẾNG VỌNG TỪ NGÔI MỘ CỔ

    Cách đây gần 35 năm, vào ngày 8/7/1977, Bảo tàng Hải Phòng phối hợp với các chuyên gia, nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệp của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Viện Khảo cổ học Việt Nam mở cuộc nghiên cứu khai quật ngôi mộ cổ tại thôn Nhân Giả, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo. Đây là một phát hiện khảo cổ học hết sức tình cờ và lập tức thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khảo cổ học lịch sử nước nhà và nhân dân địa phương. Trước kia, gò mộ có quy mô khá lớn, trải qua thời gian lớp đất bên ngoài bị bóc dần, làm xuất lộ ba góc của ngôi mộ hợp chất khổng lồ. Nghe tin về ngôi mộ, bà con dòng họ Dương ở Mai Sơn (Nhân Hoà - Vĩnh Bảo) lập tức có mặt  nhận đây là sinh phần  của tiên nhân trong dòng tộc. Cụ trưởng tộc Dương Văn Vãn viện dẫn đầy đủ các nguồn tại liệu từ truyền ngôn đến văn tự để chứng minh cho nhận định đây chính là sinh phần của thân mẫu Hoàng thái tử Lê Nghi Dân - Bà Dương Thị Bí. Bởi lẽ, cách đó không lâu, dòng họ Dương ở Mai Sơn cũng đã di chuyển một ngôi mộ cổ hợp chất tương tự với vô số vải vóc, quần áo của một bậc vương tôn, quý tộc chôn theo, phải huy động mấy xe bò mới chuyên chở hết đươc tục truyền là mộ phần của ông hoàng Lê Nghi Dân.

   Kết quả cuộc khai quật cung cấp: gò mộ có kích thước 11,5m x 10,0m, đặt theo hướng Đông Nam, hơi Đông khoảng 25 độ. Cấu trúc mộ gồm: lớp ngoài cùng là quách mộ hợp chất dạng mái bằng dạng bê tông tổng hợp (vôi, cát, mật mía...) hình khối chữ nhật: dài 2,8m, rộng 1,8m và cao 0,95m; tiếp đến là lớp quách gỗ ngoài với kích thước: 2,7m x 1,1m x 0,85m; sau đó là quách gỗ trong dày 0,09m với kích thước: 2,1m x 0,83m x 0,60m. Khoảng cách giữa quách gỗ ngoài và quách gỗ trong rộng chừng 0,18m là lớp hợp chất nhờ nhờn vôi trắng chèn chặt; trong cùng là quan tài gỗ dày 0,1m có kích thước: 1,9m x 0,62m x 0,53m, được ghép bằng 6 tấm gỗ ngọc am (thông già trăm tuổi). Bên trong quan tài, người ta đã tìm thấy một bộ xương người và một số đồ tuỳ táng. Bộ xương theo đoán định của giới chuyên môn là của một phụ nữ ỏ độ tuổi chừng 60, còn đủ 32 chiếc răng nhở, đều đặn. Đồ tuỳ táng chôn theo là 1 đôi hoa tai bằng vàng, hình quả bầu dưới to trên nhỏ, với hai tầng cánh hoa (tầng trên 12 cánh, tầng dưới 19 cánh); 4 tượng người bằng đất nung đứng thẳng, tay dang ngang (đều bị gãy chân, tay); 2 mảnh gỗ hình chữ nhật bị thủng ở giữa, chưa xác định được công dụng...

    Căn cứ vào phú ý, gia phả, truyền ngôn của dòng họ Dương ở Mai Sơn, giới nghiên cứu đã lần dò trong sử liệu để tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của chủ nhân ngôi mộ cổ này. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" cung cấp đại ý là: Năm 1440, bà Dương Thị Bí sinh được con trai là Lê Nghi Dân. Năm sau, Nghi Dân được vua (Lê Thái Tông) yêu phong cho làm Hoàng thái tử. Từ đó bà Dương cậy mình, tỏ vẻ kiêu căng. Vua nín nhịn mới giáng xuống là Chiêu Nghi cho sửa lỗi nhưng Dương Thị Bí lòng càng tức giận, không kiêng nể gì cả. Vua cho là người mẹ mà như thế thì con sau này khó trở thành đấng minh quân bèn giáng xuống làm đàn bà thường, đồng thời xuống chiếu báo cho thiên hạ biết là ngôi thái tử chưa định. Sau đó, vua Thái Tông phong cho Bang Cơ (con Nguyễn Thị Anh) làm Hoàng thái tử, còn ban cho Nghi Dân tước Lạng Sơn Vương. Năm Diên Ninh thứ 6 (1459), Lạng Sơn Vương Nghi Dân đang đêm bắc thang chia làm 3 đường leo vào thành cửa Đông, lẻn vào cung cấm, vua Thái Tông và Tuyên Từ Hoàng thái hậu bị giết. Nghi dân tiếm ngôi, sau 8 tháng tin dùng bọn gian nịnh, giết hại bề tôi cũ, pháp tông đổi thay hết thảy, người oán trời giận, bị các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhau đêm quân làm binh biến, phế Nghi Dân, đón Hoàng tử Tư Thành lên ngôi - tức vua Lê Thánh Tông.

    Sự kiện này cũng đã được Phan Huy Chú chép sách "Lịch triều hiến chương loại chí": "Vua Nhân Tông hoàng đế tên là Bang Cơ con thứ ba của Lê Thái Tông. Khi lên ngôi mới 2 tuổi. Thái hậu buông rèm nhiếp chính, khi đã lớn vua thân coi việc triều chính, chuộng nho học, nghe lời can, thương người làm ruộng, yêu dân. Vua ở ngôi 17 năm bị Lạng Sơn Vương là Nghi Dân giết chết năm 1459"...

     Tổng hợp tài liệu điều tra điền dã, chính sử và thư tịch cổ cũng như kết quả khai quật khảo cổ học, giới nghiên cứu thống nhất cho rằng: từ sự kiện phế lập ngôi thứ ở triều Lê Sơ (1440 - 1459) đã dẫn đến cuộc biến loạn Nghi Dân, sau khi bị phế truất ông xin về quê mẹ để gửi xác. Như vậy, ngôi mộ "ông Hoàng" mà trước đây họ Dương ở Mai Sơn đã di chuyển được xác định là của Lạng Sơn Vương Nghi Dân thì ngôi mộ hợp chất do giới khảo cổ, bảo tồn bảo tàng nghiên cứu khai quật là sinh phần của nguyên phi Dương Thị Bí hoàn toàn có cơ sở. Truyền ngôn trong Dương tộc nhắc đến việc bà Dương Thị Bí là nguyên phi của vua Lê Thái Tông, mẹ của vua Nghi Dân, do mắc lỗi với vua Thái tông bị giáng làm thứ dân, khi chết được chôn cất chu đáo tại quê nhà.

TẤM LÒNG THƠM THẢO LƯU MÃI TRĂM NĂM

    Sách "Đại Nam nhất thống chí" cho biết: núi Chu Cốc (còn gọi là núi Hang Son) ở "cách huyện Thuỷ Đường 13 dặm", "có sông chảy về phía đông bắc qua đây đổ vào Quảng Yên, tức là một dòng của sông Bạch Đằng". Hang Chu Cốc có đất đỏ như son (nên gọi là núi Son), xưa có lệ cúng tiến. Sau có bà Nguyễn Thái Phi (mẹ nuôi vua Lê Uy Mục), người Hoa Lăng (Thuỷ Đường) sợ dân địa phương vất vả, sai lấp hang, nên hiện chưa rõ chỗ đất làm son.

    Theo nội dung minh văn các tấm bia: "Cối Sơn tự bi", "Hội chủ hưng công Cối Sơn tự tạo bi ký", "Vĩnh Đình am bi ký"...ở làng Thiên Lộc (tên nôm là làng Vàng), nay thuộc xã Đại Hợp, huyện Kiến Thuỵ cho biết: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh, người làng Thiên Lộc được tuyển vào cung của Bình An Vương Trịnh Tùng. Bà đã giúp dân làng dựng đình Vàng, chùa Cối Sơn (thường gọi là chùa Đoài), chùa Vĩnh Đình (thường gọi là chùa Đông) và miếu Thiên Lộc. Ngạn ngữ vùng này có câu: "Xứ Bắc đình Rồng, xứ Đông đình Vàng" hay "To đình Vàng, sang đình Tiểu" (đình Rồng tức là đình Long Khám nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc, đình Tiểu tức là đình làng Tiểu Trà cùng huyện Kiến Thuỵ). Dân làng Vàng (Thiên Lộc) còn lưu truyền nhiều giai thoại về việc bà chúa giúp dân làm đình. Trong đó đáng chú ý là câu chuyện hàng năm vào vụ làm mắm tôm, bảo bảo dân làng chở hàng chục chum mắm to lên kinh đô Thăng Long dâng vào phủ chúa. Chum nào định dấu vàng gửi về cho dân quê dựng đình, sửa chùa, chọn lúc trời nắng gắt bà tự tay quấy đảo làm mắm dậy mùi nồng nặc, nhân lúc mọi người trong cung lẳng lặng tránh ra xa, bà bí mật thả những thỏi vàng giấu trong tay vào các chum mắm. Sau đó bà sai gia nhân trả lại toán dân phu những chum mắm không đạt chất lượng cùng vàng về quê cho dân làng làm đình. Chuyện này hư thực thế nào khó mà kiểm định được.

   Bia "Hội chủ hưng công Cối Sơn tự tạo bi ký" dựng tháng giêng năm Canh Thìn niên hiệu Chính Hoà  ghi việc bà Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh, tên hiệu Chân Viên Quang, vương phủ nội quý tân phi lâu năm tích luỹ công đức, đứng làm hội chủ khuyến hoá tài lực, trên từ vương phi công tử, quý tộc hoa tôn, thái công, lão bà thành tâm đóng góp...Bà Nguyễn Thị Ngọc Đĩnh cúng 110 lạng bạc, 1500 quan tiền, 34.000 thăng gạo, 50 quan để tạo bia, 100 quan tiền để chi công thợ, mua sắm lặt vặt, lại mua 7 sào ruộng làm ruộng Tam Bảo. Tấm bia "Vĩnh Đình am bi ký" dựng năm Hoằng Định 10 (1610), ghi việc cung tần vương phủ là Nguyễn Thị Ngọc Định cùng thân mẫu là Phạm Thị Suối và con trai là Phó tướng Thọ Nham hầu Trịnh Đình góp công của xây chùa Vĩnh Đình. Ngay 17 tháng giêng năm Hoằng Định, bà chúa lại dựng thêm một am nhỏ 6 gian 2 trái ở sau chùa để mẹ ở dưỡng già...

    Bia "Tu tạo Ngọc Hoa tự bi" dựng năm Phúc Thái 2 (1644) tại chùa Gia (tên chữ là Ngọc Hoa tự) thuộc xã Thuỷ Đường, huyện Thuỵ Nguyên cho biết: Bà Phạm Thị Doãn (Diễm), người làng Thuỷ Đường được tuyển làm cung tân trong phủ chúa Trịnh. Tiếc rằng nội dung văn bia cũng như truyền ngôn của địa phương không cho biết gì nhiều về thân thế sự nghiệp của bà. Theo văn bia thì bà người đứng ra là hội chủ hưng công trùng tu, tôn tạo chùa Gia (Ngọc Hoa tự) của làng.

Trần Phương      

TIÊU ĐIỂM

Hình ảnh
CHO THUÊ NHÀ ĐẤT QUÝ 2 NĂM 2015 1. CHO THUÊ NHÀ MẶT ĐƯỜNG ĐÀ NẴNG ĐỂ KINH DOANH VĂN PHÒNG, có...
Hình ảnh
Năm mới đã đến, hãy dành những lời chúc tết độc đáo dành cho người thân, bạn bè như một món...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay30
mod_vvisit_counterHôm qua521
mod_vvisit_counterTất cả2193589
Hiện có 16 khách Trực tuyến